Thành lập doanh nghiệp, vướng ở đâu?

Một trong những điểm cải cách mạnh mẽ nhất của Luật Doanh nghiệp (DN) 2005 là việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, từ đó rút ngắn quy trình thành lập DN.

Tuy nhiên nếu đi từ tinh thần Hiến pháp 2013 đến thực tiễn thành lập và đăng ký kinh doanh đã xảy ra nhiều chuyện thú vị. Đó là chuyển từ doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh những gì đã đăng ký sang doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh tất cả những gì pháp luật không cấm, theo tinh thần Điều 33 Hiến pháp năm 2013.

“Có thể làm tất cả những gì mà luật không cấm” là một trong những nguyên tắc cơ bản của nhà nước pháp quyền mà theo đó, mọi công dân và DN có thể làm tất cả những gì một khi điều đó không bị pháp luật cấm. Như vậy, pháp luật chỉ quy định những điều cấm mà không quy định danh mục những hành vi cho phép. Nguyên tắc này giúp phát huy mọi sáng tạo của các chủ thể phục vụ lợi ích của xã hội, của Nhà nước và của công dân. Tuy nhiên, đối với các cơ quan nhà nước, các cán bộ – công chức (CBCC) lại phải áp dụng nguyên tắc “Chỉ được làm những gì mà luật cho phép”, nhằm tránh những hành vi tuỳ tiện, xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của công dân.

Thực tiễn thành lập và ĐKKD đã xảy ra nhiều chuyện thú vị vì sự “đối đầu” của hai nguyên tắc nêu trên. Nhiều người hẳn còn nhớ câu chuyện cách đây chưa lâu về con gián đất ở Bắc Ninh. Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư đã cấp phép cho nuôi gián đất, thế nhưng ngành Nông nghiệp lại cho rằng gây nuôi gián đất là việc làm bị nghiêm cấm, đây là loài chưa được phép nuôi ở Việt Nam.

Một doanh nghiệp đã khởi kiện Sở KH&ĐT vì họ đã đầu tư 3 tỷ đồng vào con gián đất, để rồi bị tiêu hủy. Câu chuyện dường như đã lắng xuống, thế nhưng vấn đề mà nó gợi ra thì vẫn còn nguyên tính thời sự. Đó là chủ thể nào có quyền cấm và hạn chế quyền tự do kinh doanh? Và “những gì pháp luật không cấm” bao gồm những gì?

Hiện nay, để khắc phục câu chuyện này, khi ĐKKD, nếu có ngành nghề mới chưa có trong danh mục ngành nghề thuộc mã ngành nghề kinh tế quốc dân, thì Nghị định 43/2010/NĐ-CP và Thông tư 01/2013/TT-BKH&ĐT xếp vào nhóm ngành nghề “chưa biết phân vào đâu”, hoặc “ngành nghề chưa khớp mã với hệ thống nghề kinh tế Việt Nam”

Liên quan đến vấn đề này, có hai câu hỏi đặt ra.

Thứ nhất, nếu như cơ quan nhà nước không thể thống kê, liệt kê ra hết những ngành nghề kinh doanh thì tại sao không lựa chọn phương án là chỉ thống kê các ngành nghề cấm đăng ký kinh doanh, còn lại tất cả là các ngành nghề mà nhà đầu tư thoải mái lựa chọn (bao gồm cả hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện)?

Thứ hai, tại sao lại bắt người thành lập DN phải “áp mã ngành” cấp 4 hoặc cấp 5 ngay trên hồ sơ thành lập doanh nghiệp, trong khi đây là chức năng của Phòng ĐKKD?

Trả lời câu hỏi thứ nhất, trong L.DN sửa đổi nên đi theo phương án, chỉ nên thống kê các ngành nghề cấm kinh doanh, còn lại để DN tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh của họ. Vậy thì chắc hẳn nếu thống kê lại đối với tất cả lĩnh vực thì văn bản cấm kinh doanh phải nhiều cả mét khối.

Trả lời câu hỏi thứ hai, việc áp mã ngành nên thuộc trách nhiệm của Phòng ĐKKD, bởi lẽ, cơ quan nhà nước muốn quản lý, muốn áp mã ngành thì chính họ phải áp mã ngành, chứ không phải chuyển trách nhiệm này cho người thành lập DN. Trên thực tế, người thành lập DN sẵn sàng bỏ ra mức phí cao gấp 2 – 3 lần hiện nay (200.000 đồng/GCNĐKDN), miễn là không phải đi lại nhiều lần, mất thời gian và còn tốn kém hơn.

Bảo đảm quyền tự do kinh doanh là điều mà cơ quan soạn thảo Luật Doanh nghiệp kỳ vọng sẽ đem lại một cú hích lớn trong cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, tăng cường và thu hút mọi nguồn lực vào sản xuất kinh doanh. Thế nhưng, dung hòa được giữa nhu cầu quản lý và yêu cầu tự do kinh doanh của doanh nghiệp có lẽ là bài toán không dễ giải của cơ quan quản lý cũng như các nhà làm luật.

(Người viết: Lê Kim Dung – Phòng Doanh nghiệp LAWPRO – Tháng 8/2014)

Hỏi đáp Thành lập doanh nghiệp, vướng ở đâu? trực tuyến

Liên hệ luật sư

Thông tin bắt buộc*
  • Công ty Luật LAWPRO Công ty Luật LAWPRO

    Năm 2007, LAWPRO được thành lập với tôn chỉ mục đích xuyên suốt là xây dựng niềm tin và uy tín đối với khách hàng – Trust Creates Value, đưa LAWPRO trở thành thương hiệu tư vấn luật tin cậy của [...]

  • Cam kết giá trị Cam kết giá trị

    1. Đội ngũ nhân sự chất lượng: LAWPRO có đội ngũ luật sư, chuyên viên tư vấn được đào tạo bài bản ở các trường đại học luật, chuyên ngành luật lớn trong và ngoài nước, nhiều người đã [...]

  • Thành tích nổi bật của công ty luật Lawpro Thành tích nổi bật của công ty luật [...]

    Trong quá trình tác nghiệp, Công ty luật LAWPRO đã nhiều lần được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội và Sở Tư pháp thành phố Hà Nội [...]

  • Giao dịch điển hình Giao dịch điển hình

    Với đội ngũ Luật sư và các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp lý, Công ty Luật LAWPRO đã cung cấp dịch vụ pháp lý cho các khách hàng là doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động [...]