Có chia tài sản chung nếu đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế?
Trích Công văn 1476/2026 của Viện kiểm sát tối cao hướng dẫn kiểm sát xét xử
Đối với các vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất (có yêu cầu áp dụng thời hiệu), thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/7/1991, tại thời điểm mở thừa kế trên đất vẫn còn nhà của người chết thì Tòa án có quan điểm áp dụng pháp luật xác định thời hiệu chia di sản thừa kế đối với quyền sử dụng đất và nhà đều là 32 năm 06 tháng (cộng thêm thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện là 02 năm 06 tháng từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999). Việc áp dụng pháp luật như vậy có đúng không?[14]
Trả lời:
Vấn đề này đã được VKSND tối cao hướng dẫn tại Công văn số 1719/VKSTC-V14 ngày 03/5/2024 trả lời vướng mắc của VKSND thành phố Hải Phòng, cần xác định hai trường hợp như sau:
- Trường hợp trước khi Tòa án ra bản án sơ thẩm không có đương sự nào yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu thì Tòa án sẽ chia di sản thừa kế đối với quyền sử dụng đất và/hoặc quyền sở hữu nhà theo quy định chung (trên cơ sở đương sự yêu cầu chia di sản nào thì giải quyết đối với di sản đó).
- Trường hợp có đương sự yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu, căn cứ Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 17 Nghị quyết số 58, các hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao (Mục I Giải đáp số 01/GĐ ngày 05/01/2018 về một số vấn đề nghiệp vụ) và VKSND tối cao (Mục 1.2.1, Phần II Hướng dẫn số 24/HD-VKSTC ngày 12/5/2021 về một số nội dung cơ bản trong công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế), cụ thể: “Khi xác định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/7/1991 và di sản là nhà ở thì thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp thừa kế không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia”, thì xử lý như sau:
(1) Trường hợp thứ nhất: Di sản của người chết để lại có nhà trên đất, tuy nhiên tại thời điểm tranh chấp nhà trên đất không còn, đương sự không yêu cầu chia thừa kế đối với nhà, thì chỉ áp dụng thời hiệu đối với quyền sử dụng đất (30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế hoặc từ ngày 10/9/1990 nếu thời điểm mở thừa kế trước ngày 10/9/1990). Nếu còn thời hiệu thì chia, không còn thời hiệu thì đình chỉ (không kéo dài thời hiệu thêm 02 năm 06 tháng để giải quyết đối với yêu cầu chia quyền sử dụng đất).
(2) Trường hợp thứ hai: Di sản của người chết để lại có nhiều thửa đất, trong đó có căn nhà được xây dựng trên một trong các thửa đất, tại thời điểm tranh chấp thì nhà không còn; cần phân biệt 2 tình huống:
- Nếu đương sự vẫn yêu cầu xác định giá trị nhà để chia thì đối với thửa đất có nhà trên đất, áp dụng thời hiệu khởi kiện như sau: Nếu thời hiệu 30 năm đối với quyền sử dụng đất đã hết thì phải đình chỉ yêu cầu chia đất, nếu thời hiệu 32 năm 06 tháng đối với nhà vẫn còn thì chia giá trị nhà. Các thửa đất khác không có nhà thì chỉ áp dụng thời hiệu đối với đất.
- Nếu các đương sự không yêu cầu chia nhà, chỉ yêu cầu chia đất thì áp dụng thời hiệu 30 năm đối với tất cả các thửa đất.
(3) Trường hợp thứ ba: Di sản của người chết để lại là quyền sử dụng đất và nhà trên đất, đương sự yêu cầu chia thừa kế cả nhà và quyền sử dụng đất nhưng di sản là đất đã hết thời hiệu, nhà vẫn còn thời hiệu thì: Quyền sử dụng đất hết thời hiệu 30 năm thì phải đình chỉ, nhà vẫn trong thời hiệu 32 năm 06 tháng thì chia giá trị nhà cho những người thừa kế. Như vậy, nếu đương sự không yêu cầu chia di sản thừa kế là nhà mà chỉ yêu cầu chia thừa kế là quyền sử dụng đất thì không được áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với nhà cho quyền sử dụng đất. Nhà không phải đối tượng tranh chấp thì không được áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với nhà. Đồng thời, nếu áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với nhà cho quyền sử dụng đất để kéo dài thời hiệu khởi kiện đối với quyền sử dụng đất thành 32 năm 06 tháng là trái quy định của pháp luật.
Nếu đương sự yêu cầu chia thừa kế cả nhà và quyền sử dụng đất nhưng thời hiệu khởi kiện đối với quyền sử dụng đất đã hết, thời hiệu khởi kiện đối với nhà vẫn còn thì phải đình chỉ đối với yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất, không lấy thời hiệu khởi kiện đối với nhà để áp dụng đối với quyền sử dụng đất.
Do vậy, cần lưu ý vấn đề thời hiệu khởi kiện chỉ đặt ra khi có yêu cầu chia di sản thừa kế, nếu không có yêu cầu thì không đặt ra vấn đề thời hiệu. Đương sự phải có yêu cầu chia nhà ở thì mới áp dụng thời hiệu 32 năm 06 tháng, đương sự không có yêu cầu chia nhà mà chỉ yêu cầu chia đất thì chỉ áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với đất, không được căn cứ vào việc tại thời điểm người có tài sản chết trên đất có nhà để áp dụng thời hiệu khởi kiện của nhà cho đất (xem mục 6 phần III Thông tư liên tịch số 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/01/1999 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991).
Di sản thừa kế của bố mẹ để lại là quyền sử dụng đất, trong đó có một phần quyền sử dụng đất đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế mà vụ án có yêu cầu áp dụng thời hiệu, theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự thì phần di sản hết thời hiệu được giao cho người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì phần di sản hết thời hiệu có được xác định là tài sản chung của những người thừa kế để chia đều cho họ không?[15]
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản hết thời hiệu khởi kiện thì di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 Bộ luật Dân sự (đủ điều kiện được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật). Trường hợp không có người chiếm hữu đủ điều kiện nêu trên thì di sản thuộc về Nhà nước. Phần di sản hết thời hiệu khởi kiện không mặc nhiên được xác định là tài sản chung của các đồng thừa kế.
Trường hợp di sản chuyển thành tài sản chung của các đồng thừa kế được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình như sau: “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thức thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết”.
Như vậy, để di sản thừa kế của bố mẹ chuyển thành tài sản chung của các người con thì phải có văn bản thoả thuận, xác nhận của những người con về việc không tranh chấp về quyền, hàng thừa kế, xác nhận là đồng thừa kế và thừa nhận di sản chưa chia.
